Thai nhi có khả năng thụ giáo

Muốn nhận thức giáo dục thai nhi một cách khoa học, thì trước hết chúng ta phải nhận thức được tính khoa học của giáo dục thai nhi. Tính khoa học của giáo dục thai nhi là ở chỗ thai nhi có khả năng thụ giáo.

Mọi người thường cho rằng, thai nhi trong bụng mẹ là một cơ thể sống không có ý thức như một vật “vô tri vô giác”, nó không có liên hệ gì với thế giới bên ngoài. Nhưng trên thực tế thì không phải như vậy. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm khoa học: thai nhi không những có thính giá, thị giác, khứu giác mà còn có cả trí nhớ và nó có thể trao đổi thông tin với cơ thể người mẹ.

Thính giác của thai nhi

Theo kết quả nghiên cứu mới đây, sau 6 tháng tuổi là thai nhi có thính giác và bắt đầu “chăm chú lắng nghe”. Hiện tượng này không được các bà mẹ trẻ chú ý đến nhưng nó lại thu hút sự chú ý của các nhà khoa học. Sau khi sinh ra được vài ngày, lúc đứa trẻ khóc, người mẹ chỉ cần bế đứa bé áp sát vào lòng thì đứa bé nhanh chóng nín khóc và một lát sau thì ngủ. Các nhà khoa học đã giải thích hiện tượng này như sau: Sở dĩ có hiện tượng này là do ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ đứa trẻ đã có thính giác, dần dần quen với nhịp đập huyết quản của người mẹ. Nên khi đứa bé được bế áp vào lòng mẹ, tai của nó áp sát ngực của người mẹ vì thế đứa trẻ có thể nghe thấy âm thanh quen thuộc từ khi nó còn ở trong bụng mẹ, đứa trẻ như tìm lại được cảm giác an toàn nên đã nín khóc và có thể ngủ ngon.

Theo nghiên cứu khoa học, các giác quan của thai nhi như: Mắt, tai, mũi và da được hình thành từ ngay thời kỳ đầu, tất nhiên việc hình thành và phát triển chức năng của các giác quan này là thời kỳ sau của bào thai. Vào thời kỳ giữa của bào thai, thai nhi đã bước đầu mẫn cảm với âm thanh, những âm thanh đó bao gồm những âm thanh trong cơ thể của người mẹ như: Nhịp đập của huyết quản, động mạch ở tử cung, mạch máu ở cuống rốn và âm thanh từ sự co bóp của dạ dày. Trong đó bao gồm cả âm thanh ở bên ngoài cơ thể người mẹ, như các loại âm thanh từ thế giới bên ngoài, kể cả những lời tâm sự nhỏ nhẹ của bố mẹ, thai nhi cũng có thể lắng nghe được. cso ngời còn phát hiện ra, có lúc người mẹ nhỡ tay tạo ra tiếng động lớn cũng làm cho thai nhi giật mình. Điều đó cho thấy thai nhi đã có mối liên hệ với thế giới bên ngoài qua cơ quan thính giác.

Có người còn làm một thí nghiệm nhỏ như sau, trong thời kỳ người mẹ mang thai, dể bố mẹ đặt cho thai nhi một cái tên và hàng ngày gọi tên thai nhi. Sau khi được sinh ra, khi đứa trẻ nghe thấy tên gọi quen thuộc thì lập tức nó ngừng bú sữa hoặc nếu đang khóc thì nó lập tức nín khóc, có lúc còn tỏ ra vui mừng. Kết quả của thí nghiệm này ở một mức độ nào đó đã chứng minh được rằng, thai nhi không chỉ có thính giác mà nó còn có khả năng hiểu ý.

Y học hiện đại đã dùng dụng cụ quan sát hiện đại để uqan sát tình hình của thai nhi trong dạ con của người mẹ, khi thai nhi nghe thấy âm thanh, nhịp tim của thai nhi đập nhanh hơn. Khi nghe thấy tiếng xe ô tô, thì thai nhi liền cựa quậy. Do âm thanh chi phối môi trường sống của thai nhi là nhịp tim của người mẹ, nên chỉ khi nào nghe thấy nhịp tim của người mẹ thì thai nhi mới thôi cựa quậy. Điều này cũng góp phần giải thích cho ví dụ đã nêu ở trên là tại sao khi được mẹ ôm sát vào lòng đứa trẻ lại nín khóc và ngủ. Một phụ nữ mang thai cũng đã nói về sự nhận biết này, âm thanh phát ra do đóng cửa đột ngột cũng sẽ làm cho thai nhi sợ hãi. Khi người mẹ mang thai đi ở những nơi đông đúc nhiều xe cộ qua lại cũng làm cho thai nhi bất an. Tất cả những cái đó đều chứng tỏ rằng thai nhi có khả năng cảm thụ âm thanh bên trong và bên ngoài cơ thể của người mẹ

Kết quả nghiên cứu của nhiều năm trước cho thấy, trong phòng của trẻ sơ sinh, để cho trẻ sơ sinh được nghe băng có thu nhịp tim của người, thì những đứa trẻ này tỏ ra linh hoạt hơn những đứa trẻ không được nghe băng, khả năng ăn uống và ngủ nghỉ của chúng cũng tốt hơn, lớn nhanh hơn, khả năng hô hấp ngày càng tốt, không khóc và có sức đề kháng tốt.

Tóm lại, thai nhi sớm đã có thính giác và có thể liên hệ với thế giới bên ngoài nhờ vào thính giác. Đây là một trong những cơ sở vfa căn cứ khoa học trong quá trình giáo dục thai nhi.

Thị giác của thai nhi

Thai nhi sống trong bào thai bị bao bọc bởi nước ối, nhau thai, có thể nói không nhìn thấy gì, nhưng điều đó có nghĩa là thai nhi không có khả năng thị giác. Vậy thị giác của thai nhi như thế nào?

Sự hình thành thị giác của thai nhi muộn hơn so với sự hình thành của các giác quan khác, bởi vì dạ con là một môi trường tối, không thích hợp với việc dùng mắt nhìn, nhưng mắt của thai nhi không phải không hoàn toàn nhìn thấy. Khi người mẹ mang thai đuợc hai tháng, mắt của thai nhi bắt đầu được hình thành, đến khi thai nhi được 4 tháng, thai nhi có khả năng cảm thụ ánh sáng. Cso người dùng đèn pin chiếu vào bụng người mẹ và dùng dụng cụ quan sát đặc biệt, quan sát thấy thai nhi mở mắt và quay mặt về phía có ánh sáng rọi vào, đòng thời nhịp tim của thai nhi cũng thay đổi theo quy luật. Tất nhiên, nếu chiếu trực tiếp ánh sáng của đèn vào bụng mẹ, thì thai nhi sẽ cảm thấy khó chịu, khi đó mặc dù thai nhi không quay mặt đi thì cũng sẽ tỏ ra hoảng sợ. Y học hiện đại đã dùng thiết bị quan sát đặc biết để quan sát thai nhi và phát hiện, nếu dùng đèn pin lúc bật lúc tắt chiếu vào bụng mẹ thì số nhịp đập của tim thai nhi cũng thay đổi nhanh chóng. Điều đó cho thấy thị giác của thai nhi đã phát huy tác dụng.

Có báo cáo khoa học nói rằng, sau khi sinh được 10 ngày đứa trẻ đã có thể sử dụng thị giác, có thể nhận thấy rõ sự thay đổi của mẹ mình trong khoảng cách từ 15 – 30cm, thậm chí có thể nhìn rõ hình dáng của ngón tay trong khoảng cách khoảng 3m. Có người cho rằng, thị giác của trẻ sơ sinh chỉ quan sát được những đồ vật tỏng khoảng từ 30 – 40cm, vì đây cũng chính là độ dài của dạ con mà nó mới được sinh ra. Điều này không chỉ cho thấy trẻ sơ sinh vẫn giữa được thói quen sống trong môi trường dạ con, mà còn cho thấy ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ thai nhi đã có thể sử dụng thị giác, quan sát được môi trường trong phạm vi của dạ con. Đây là một trong những cơ sở và căn cứ khoa học cho quá trình giáo dục thai nhi.

Khứu giác của thai nhi (xúc giác)

Khác với thị giác, khứu giác của thai nhi được hình thành sớm hơn. Khi người mẹ mang thai được 2 tháng, thai nhi đã có thể cử động phần đầu, tứ chi và phần thân, có thể chuyển dịch trong bào thai. Khi được bốn tháng, nếu như tay của người mẹ vô tình xoa vào phần mặt của thai nhi thì nó sẽ chau mày hoặc nhắm mắt. Nếu người mẹ tạo ra một áp lực nhỏ trên bụng thì lập tức thai nhi sẽ dùng tay hoặc chân của mình để tạo phản ứng. Qua kính quan sát thai nhi phát hiện thấy, khi chạm phải lòng bàn tay của thai nhi, thì ngay lập tức nó sẽ nắm chặt tay vào để phản ứng, còn nếu chạm phải miệng của thai nhi, thì nó sẽ phản ứng bằng cách ngậm môi và mút. Một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã sử dụng sơ đồ sóng siêu thanh và phát hiện ra rằng, dương vật của thai nhi nam trong dạ con cũng có thể cử động. Tất cả những cái đó đều cho thấy chức năng xúc giác của thai nhi. Do môi trường trong dạ con rất tối đã hạn chế sự phát triển thị giác của thai nhi nên thính giác và xúc giác của thai nhi rất phát triển. Và cũng chính những chức năng này là cơ sở tốt cho việc giáo dục thai nhi.

Vị giác và khứu giác của thai nhi

Sau khi người mẹ mang thai được 2 tháng, thì miệng của thia nhi bắt đầu được hình thành. Được 4 tháng thì khí quan cảm thụ vị giác trên đầu lưỡi của thai nhi được hình thành hoàn toàn, mặc dù nước ối làm giảm mùi vị nhưng thai nhi vẫn có thể cảm nhận được vị giác.

Mũi của thai nhi cũng giống như miệng của nó, được hình thành sau khi người mẹ mang thai được 2 tháng. Được 7 tháng, lỗ mũi của thai nhi hoàn toàn có thể cảm nhận được thế giới bên ngoài. Nhưng do thai nhi bị bao bọc bởi nước ối, tuy nó có thể đã hình thành khứu giác nhưng vẫn không thể ngửi thấy mùi vị gì, điều đó đã hạn chế sự phát triển khứu giác của thai nhi. Tuy vậy, ngay sau khi được sinh ra, khứu giác của trẻ sơ sinh liền phát huy tác dụng, nhờ có khứu giác mà đứa trẻ có thể tìm đến bầu vú mẹ để bú sữa. Ebert – một nhà bác học nổi tiếng người Newzealand đã chứng minh được rằng khi người mẹ mang thai được 4 tháng thì vị giác của thai nhi được hình thành. Ebert đã cho một ít đường tinh vào trong nước ối của một phụ nữ mang thai, kết quả là, thai nhi nhô cao hơn vị trí bình thường để hút nước ối. Sau đó ông ta lại cho vào nuớc ối một ít dầu có mùi vị khó chịu, lúc này thai nhi lập từng ngừng hút nước ối và bắt đầu cựa quậy trong bụng mẹ tỏ vẻ bất an.

Vị giác và khứu giác của thai nhi là một bộ phận không thể tách rời trong quá trình hình thành các giác quan cảm giác của thai nhi, chúng là một trong những công cụ giúp thai nhi cảm thụ sự khích thích từ bên ngoài và cũng là một trong những cơ sở khoa học cho việc giáo dục thai nhi.

Trí nhớ của thai nhi

Xung quanh vấn đề trí nhớ của thai nhi có rất nhiều quan điểm khác nhau. Có người cho rằng, sau 4 tháng kể từ khi người mẹ mang thai, trong bộ não của thai nhi đã xuất hiện những biểu hiện cho thấy thai nhi bắt đầu hình thành trí nhớ. Cũng có người cho rằng trước 8 tháng thai nhi không thể có trí nhớ và khả năng cảm giác, khả năng này càng ngày càng phát triển cùng với sự lớn dần của thai nhi.

Trong lúc ôm con vào lòng, đứa trẻ đã nghe thấy nhịp tim của người mẹ và nhanh chóng ngủ ngon. Trong phòng dành cho trẻ sơ sinh ở khoa sản của một bệnh viện, người ta đã cho mở cuốn băng ghi âm thanh nhịp đạp, mạch máu của dạ con của người mẹ và quan sát thấy những đứa trẻ đang khóc lập tức nín khóc, uống sữa và ngủ ngon, thể trọng của những đứa trẻ cũng tăng rất nhanh.Bời vì ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ, đứa trẻ đã quá quen với nhịp tim của người mẹ nên chỉ cần nghe thấy nhịp tim quen thuộc ấy thì đứa trẻ cảm thấy gần gũi và an toàn. Điều này chứng tỏ rằng thai nhi đã nhớ được âm thanh quen thuộc của nhịp tim người mẹ. Một ví dụ nữa, nhiều nhạc công, nhà soạn nhạc và chỉ huy dàn nhạc nổi tiếng đều thừa nhận rằng, trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của họ, có những bản nhạc mặc dù họ chưa gặp và nghe bao giờ nhưng họ vẫn thấy quen thuộc như đã được nghe nó ở đâu đó. Đối với những bản nhạc này họ không cần phải nhìn vào bản nhạc phổ nhưng họ vẫn chơi tốt. Nguyên nhân của hiện tượng này đó là do khi người mẹ của họ mang thai đã nhiều lần nghe và chơi bản nhạc này. Điều đó chứng tỏ rằng trí nhớ của thai nhi đối với âm thanh là rất tốt. Trong khi biểu diễn, Brote – chỉ huy dàn nhạc Hamilton của Canada đã nghe thấy một bản nhạc mà ông ta chưa từng nghe bao giờ nhưng vẫn thấy rất quen thuộc, điều này làm cho Brote không hiểu tại sao. Sau này ông ta mới biết, trước kia mẹ của Brote là một người chơi dương cầm, bà từng đánh bản nhạc này rất nhiều lần khi còn mang thai Brote nên đã tạo cho ông ta cảm quen thuộc đối với bản nhạc này. Có một bà mẹ khi mang thai đã nhiều lần hát một bài dân ca. Sau này khi sinh đứa trẻ ra, bất kể đứa trẻ này khóc đến mức độ nào, chỉ cần bà mẹ hát khúc dân ca đó là đứa bé lập tức nín khóc và ngủ ngon.

Tất cả những ví dụ trên đều cho thấy thai nhi đã có một trí nhớ nhất định. Ở Tây Ban Nha người ta đã thành lập phòng nghiên cứu chuyên nghiên cứu về giáo dục tiền sinh sản, vấn đề nghiên cứu chủ yếu là: Chức năng của não thai nhi có được phát triển không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, thai nhi có mối liên hệ đặc biệt với thế giới bên ngoài bằng những cảm giác và những hành vi có ý thức, điều này sẽ lưu lại khá lâu trong trí nhớ của thai nhi và có ảnh hưởng không nhỏ tới trí năng, thể năng và cá tính của đứa trẻ sau này.

Tóm lại, thai nhi có trí nhớ và chính vì thế trí nhớ của thai nhi cũng là một trong những cơ sở và căn cứ khoa học của quá trình giáo dục thai nhi.

Cũng chính vì thai nhi có trí nhớ nên đã tạo cho thai nhi có hoạt động phức tạp của bộ não – nằm mơ. Năm 1861 một nữ y tá người Bỉ đã tiến hành thực nghiệm đối với hơn 100 phụ nữ mang thai. bÀ ta đã gắn lên đầu những phụ nữ này một vài điện cực và nối với nhau bằng một thiết bị, thiết bị này có khả năng kiểm tra 8 hoạt động chủ yếu của não bộ, trong đó có cả hoạt động “nằm mơ”. Ngoài ra bà  ta còn gắn thiết bị điện tử vào phần bụng của những phụ nữ mang thai này vfa ghi lại tình hình hoạt động của thai nhi. Kết quả của thí nghiệm này là: Khi người mẹ bắt đầu nằm mơ, thì thai nhi cũng có biểu hiện tương tự (lúc này thai nhi mới được 8 tháng tuổi), toàn thân thai nhi ngừng hoạt động, mắt chuyển động nhanh, có nghĩa là thai nhi cũng đang mơ màng. Về hiện tượng này các nhà khoa học cho rằng, trong quá trình mang thai những gì mà người mẹ nghĩ, nhìn thấy và ngửi thấy sẽ chuyển thành tin tức tư duy và truyền cho thai nhi.

Tóm lại, do thai nhi có trí nhớ và có khả năng nằm mơ nên giáo dục thai nhi trong lúc mang thai là việc làm cần thiết và rất có ý nghĩa của người mẹ.

Thói quen và tính cách của thai nhi

Thai nhi và trẻ sơ sinh chỉ khác nhau ở chỗ trẻ sơ sinh được sinh ra và sống trong môi trường bên ngoài cơ thể người mẹ. Thai nhi và trẻ sơ sinh không có sự khác nhau về chất. Ví dụ, trẻ sơ sinh chỉ thích ngủ, nhìn mọi vật xung quanh múa chân mua tay và khóc lịm người đi. Thai nhi cũng vậy, lúc thì thích cựa quậy chân tay lúc thì không thích, sự khác nhau đặc điểm tính cách của thai nhi và trẻ sơ sinh là do sự khác nhau của môi trường sống của chúng.

Kết quả của một báo cáo nghiên cứu đã cho thấy, nếu như khi mang thai, người mẹ dùng nhiều hoàng thể (một loại thuốc kích thích tố tiết của phụ nữ) thì khi sinh con đứa trẻ có đặc điểm nữ tính. Do thai nhi hấp thụ quá nhiều thuốc kích thích từ cơ thể người mẹ nên đã làm thay đổi các khí qua của thai nhi đã dẫn đến sự thay đổi về tính cách của thai nhi, tạo ra sự dị thường trong tính cách bẩm sinh của thai nhi. Những dị thường bẩm sinh này không chỉ thể hiện sự dị thường về hành vi, tinh thần không ổn định, tính cách dị thường mà còn biểu hiện ra là thiếu khí chất của nam giới hoặc thiếu khí chất của nữ giới.

Hoàng thể là chất kích thích thường thấy trong máu của người phụ nữ mang thai. Lượng chất kích thích này nhiều hay ít phụ thuộc vào trạng thái cân bằng của việc trao đổi thông tin giữa thần kinh thực vật và trung khu thần kinh. Khống chế ítn hiệu này chính là trạng thái tinh thần của người phụ nữ mang thai, tức là tư duy, cảm giác, hành vi và ngôn ngữ của người phụ nữ mang thai. Như vậy, cá tính của thai nhi có mối liên hệ chặt chẽ với môi trường, lối sống, trạng thái sức khỏe của người mẹ trong thời gian mang thai. Chính vì thế, để tạo cho thai nhi có tính cách tốt thì người mẹ phải biết điều chỉnh tốt trạng thái tinh thần của mình. Trên cơ sở đó, phải tiến hành giáo dục thai nhi một cách khoa học thì mới có thể đạt hiệu quả cao.

Theo phân tích báo cáo nghiên cứu của Thạc sỹ Schutirmann – Khoa nhi bệnh viện Thụy Sỹ,  thói quen ngủ li bì của trẻ sơ sinh là do vài ba tháng sau cùng trong thời gian mang thai do người mẹ quyết định.

Schutirmann đã tiến hành nghiên cứu với 2 nhóm phụ nữ mang thai: Một nhóm là chuyên dậy sớm, nhóm còn lại thì chuyên thức khuya. Sau đó ông ta tiến hành nghiên cứu những đứa trẻ được sinh ra từ 2 nhóm khác nhau trên. Kết quả cho thấy, những đứa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ hay dậy sớm thì ngay sau khi sinh ra những đứa trẻ này đã có thói quen dậy sớm mỗi khi ngủ. Còn những đứa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ hay đi ngủ muộn thì những đứa trẻ này cũng có thói quen đi ngủ muộn. Như vậy, thai nhi trong bụng mẹ đã có thể thích ứng một cách nhanh chóng với nhịp sống thường này của người mẹ. Thói quen của thai nhi có mối liên hệ chặt chẽ với thói quen của người mẹ. Cũng theo nghiên cứu này, trước khi sinh một vài tháng, người mẹ và thai nhi đã có sự liên hệ với nhau về nhịp điệu và quy luật sinh vật cũng như về mặt tinh thần. “Sự cảm thông” giữa người mẹ và đứa trẻ sau khi sinh chính là quá trình tiếp diễn “sự cảm thông” giữa người mẹ và thai nhi không chỉ là căn cứ khoa học cho việc giáo dục thai nhi mà còn là biện pháp để tiến hành giáo dục thai nhi.

——————————

Chương I: TÌM HIỂU VỀ GIÁO DỤC THAI NHI

I.       Bạn hiểu gì về giáo dục thai nhi

II.     Thai nhi có khả năng thụ giáo

III.   Giáo dục thai nhi được bắt đầu khi nào?

IV.    Chuẩn bị tâm lý của vợ chồng truớc khi thụ thai

V.      Tình yêu là cơ sở cho quá trình giáo dục thai nhi

——————————


Advertisements
Bài này đã được đăng trong Thiên tài từ 280 ngày. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

7 Responses to Thai nhi có khả năng thụ giáo

  1. Pingback: Giáo dục thai nhi bắt đầu khi nào? « Chip My

  2. Pingback: Chuẩn bị tâm lý của vợ chồng trước khi thụ thai « Chip My

  3. Pingback: Tình yêu là cơ sở cho quá trình giáo dục thai nhi « Chip My

  4. Pingback: Bạn hiểu gì về giáo dục thai nhi? « Chip My

  5. Pingback: Chương II: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THAI NHI « Chip My

  6. Pingback: Giáo dục thai nhi tháng thứ 4 « Chip My

  7. Pingback: Giáo dục thai nhi tháng thứ 5 « Chip My

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s